Lịch sử dân tộc Khmer - Chương IX Tín ngưỡng của người Khmer

Dân tộc Munda theo chế độ mẫu hệ, tôn thờ Mẹ Đất và Nước, có niềm tin vào Néak Ta. Người Khmer có nguồn gốc từ dân tộc Munda, cũng thừa hưởng được ba tín ngưỡng này. Cho đến ngày nay, người Khmer vẫn còn giữ được ba tín ngưỡng nguyên thủy là:

- Me – Ba (មេ​បា – mẹ cha)
- Néang Konghing (នាង​គង្ហីង – Nàng Konghing)
- Néak Ta (អ្នក​តា – ông Tà)
Thờ kính Me – Ba

Trong tiếng Khmer «me» (មេ) có nghĩa là mẹ, «ba» (បា) có nghĩa là cha. Việc thờ kính «me – ba» tức là tôn kính cha mẹ, là người mang lại sinh mạng cho mình. Người Tàu khi đến đất nước của người Khmer, thấy đặc điểm này nên hiểu lầm, cho rằng người Khmer có tục lệ thờ cúng ông bà như dân tộc mình. Kỳ thực, truyền thống này giữa người Khmer và người Tàu hoàn toàn khác nhau.

Từ khởi thủy, người Khmer đã có truyền thống thờ kính cha mẹ và tục lệ này đã có hằng trăm thế kỷ trước khi người Tàu đến.

Dưới chế độ mẫu hệ, người Khmer gọi những gì lớn nhất là «me». Riêng «ba» được dùng để đặt tên cho những ngọ núi lớn như: Ba Kheng (nay ở tỉnh Siem Rieng), Ba Deng (Yuon gọi là núi bà Đeng – hay bà Đen), Ba Phnom (nay thuộc tỉnh Prey Veng, Ba The (Yuon gọi là núi Ba Thê), …


Ngày nay, người Khmer theo Phật giáo, thế nhưng trong các nghi thức tôn giáo, người ta vẫn đọc bài kệ nhớ ơn cha mẹ. Người Khmer cũng tin rằng có thể vượt qua cảnh nguy hiểm hay hoàn cảnh ngặt nghèo nếu người ta nghi nhớ và nhắc đến công ơn cha mẹ.

Ngày nay chúng ta không còn biết rõ nghi thức thờ cúng cha mẹ được thực hiện như thế nào, nhưng có một điều chắc chắn rằng, những người phụ trách các nghi thức này là các « Ta Chey» (តា​ជ័យ) và «Yeay Chey» (យាយ​ជ័យ) là những người lớn tuổi, mặc đồ màu trắng. Ngày ta người ta vẫn còn thấy các «Yeay Chey» sống ở các chùa. Tuy nhiên, những «Yeay Chey» ngày nay là những người giữ 8 giới dành cho cư sĩ Phật giáo, họ ở chùa và giúp đỡ các sư làm một số công việc Phật sự cũng như làm việc chùa chứ không còn đảm nhận công việc nào liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng cha mẹ như người Khmer thời trước nữa.

Thờ kính Néang Konghing và Kraper

Truyền thuyết người Khmer kể rằng: «Từ thời khởi thủy của loài người, trên mặt đất này toàn là nước. Một ngày nọ, Néang Konghing sống dưới tận đáy biển sâu đứng trên một con cá sấu trồi lên khỏi mặt nước. Nàng xoắn tóc làm nước tung tóe đi, để lộ một khoảng đất rộng để con người, trong đó có người Khmer sinh sôi nãy nỡ cho đến tận ngày nay». Cặp đôi này, người Khmer gọi là «Néang Konghing - Kraper» (នាង​គង្ហីង និង​ ក្រពើ – Nàng Konghing và Cá Sấu) và không bao giờ tách rời nhau cả. Người Khmer tôn tính Néang Konghing và Kraper ngang nhau.

Néang Konghing là người tạo ra đất chính là Préah Thorney (ព្រះ​ធរណី - Mẹ Đất), còn Cá Sấu chính là hình ảnh của Thần Nước. Néang Konghing và Cá Sấu còn biểu trưng của «me» và «ba».  Hình tượng Néang Konghinh (Đất) được đặt trên Cá Sấu (Nước) chứng tỏ người Khmer coi trọng «me» hơn «ba», đặt «me» cao hơn «ba».
Tượng Konghing bằng đồng đen,
thế kỷ thứ XIV Tây lịch

Trong cuộc sống, người ta hình tượng hóa Néang Konghing bằng là một phụ nữ có tóc dày đến gót chân và Cá Sấu là hình ảnh một con cá sấu thật. Ngày nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp Néang Konghing và Cá Sấu được khắc thành những bức tượng ở các trục đường, khuôn viên chùa, công viên và dưới dạng các loại tranh vẽ.

Cá Sấu còn được người ta tượng trưng bằng một lá cờ, có hình thoi dài như hình con cá sấu, người ta gọi là Tong Kraper (ទង់​ក្រពើ – Cờ Cá Sấu). Ngày nay, người ta thấy Cờ Cá Sấu có mặt trong tất cả các lễ hội, nhất là các lễ hội của tôn giáo, bất kể là Phật giáo hay Brahma giáo, hay bất kỳ một tôn giáo nào khác. Cờ Cá Sấu còn được gọi là Tong Rluok (ទង់​រលក – Cờ Sóng), người ta gọi là Cờ Sóng để nhắc nhở rằng Cá Sấu là hình ảnh đại diện cho Thần Nước.

Ở tất cả các phum, srok, người Khmer luôn treo một cờ Cá Sấu màu trắng trước cửa nhà hoặc cổng vào nhà có người chết và tin rằng linh hồn người chết đã đi theo cờ này, đi về với «ba», tức đã về với cha của mình. Cũng bởi lý do đó mà người ta còn gọi Cờ Cá Sâu là Tong Proleng (ទង់​ព្រលឹង – Cờ Hồn). Cũng có người gọi cờ này là Tong Kmoch (ទង់​ខ្មោច – Cờ Ma) do cờ này được treo khi có ma, tức là có người chết. Tuy nhiên, từ «Cờ Ma» ít được người ta sử dụng do «ma» có hàm ý không tốt lành và mang lại đau buồn. Từ «Cờ Ma» chắc có thể là do những người không thích Néang Konghing và Kraper đặt cho.

Phật giáo, sau khi đã diệt được Brahma giáo và trở thành tôn giáo thống trị cố gắng làm mất đi giá trị của hình ảnh «Néang Konghing - Kraper» mà người Khmer tôn thờ như thần thánh, làm cho người Khmer không tôn thờ hình ảnh này nữa. Bằng các cách, người ta biến Kraper (Cá Sấu) trở thành hình ảnh của kẻ vong ân. Một khi người ta gọi ai đó là Kraper (Cá Sấu) tức là ám chỉ người đó là kẻ vong ân, kẻ phản bội.

Néang Konghing được tách ra khỏi Cá Sấu có một số phận khác. Néang Konghing này được gán cho một truyền thuyết khác là có công giúp đức Phật chiến thắng Ma Vương. Về vấn đề này,  ông Louis Renou và Jean Filliozat có nhận xét như sau: «Nhằm ngăn cản không để cho đức Phật giác ngộ, Ma Vương giành lấy cái ghế lớn mà đức Phật đang ngồi thiền định. Ma Vương gọi lâu la của mình đến làm nhân chứng xác nhận rằng cái ghế đó là của Ma Vương và Ngài phải trả lại cho Ma Vương. Đức Phật chỉ có một mình, Ngài bèn chỉ vào đất và xin Đất làm nhân chứng xác nhận rằng ghế này là của Ngài, khi đó mặt đất rung chuyển hết sức khủng khiếp, đồng ý làm nhân chứng cho Ngài. Quân của Ma Vương thấy vậy, quá sợ hãi chạy tán loạn và đành chịu thất bại»

Nàng Konghing trong Phật Giáo
Người Khmer đồng nhất hình ảnh thần Đất trong truyền thuyết Phật giáo ở Ấn Độ với Néang Konghing của mình. Vì thế, người Khmer theo Đạo Phật sửa lại truyện cổ tích này lại như sau: «… Đức Phật gọi thần Đất lên làm nhân chứng. Nàng Konghing bèn xuất hiện, quấn mái tóc dài của nàng làm nước ra chảy lênh láng, nhấn chìm cả đội quân của Ma Vương. Ma Vương chấp nhận thất bại và chạy tan tác…» (Theo Tom Loweinstein trong cuốn L'Eveil de Bouddha).

Do nhờ có công giúp đỡ đức Phật nên Néang Konghing vẫn còn được tiếp tục được người Khmer tôn thờ đến tận ngày nay, tuy nhiên Néang Konghing mất đi địa vị thần thánh ban đầu của mình.

Truyền thuyết Đức Phật và Ma Vương có một yếu tố không hợp lý. Thông thường Néang Konghing là Thần Đất dùng tóc đánh tan nước để lộ đất chứ không thể nào dùng tóc tạo ra nước được. Thật ra, trong Phật giáo Khmer mục tiêu quan trọng không phải là vấn đề hợp lý hay không hợp lý mà là:

- Tách hình ảnh Néang Konghing và Cá Sấu, là hình ảnh mà người Khmer tôn kính như thần thánh, tôn thờ như mẹ - cha.
- Hạ thấp vi trí của Néang Konghing địa vị như thần thánh xuống thành một người có công giúp đỡ đức Phật.
- Là thế nào đó để người ta chỉ tôn kính duy nhất một Đức Phật trong xã hội của người Khmer

Phù hợp hay không phù hợp không phải là vấn đề quan trọng, và dù có hợp lý hay không hợp lý thì người Khmer vẫn tin.

Thờ Néak Ta

Chòi Néak Ta ở  Rong Domrey (Tây Ninh)
«Néak Ta» ( អ្នក​តា - Yuon gọi theo Khmer ở Preah Trapeang là Ông Tà) là linh hồn ngụ ở các cội cây lớn trên các ngọn núi hoặc những nơi khác như trong rừng, trong srok.

Người ta đại diện cho Néak Ta bằng một hay nhiều hòn đá được đặt ở gốc cây dưới chân núi hoặc một nơi nào đó xa nhà ở. Trang trọng nhất thì người ta cũng chỉ đặt «Đá Néak Ta» trong một cái chòi nhỏ mà người ta gọi là «Nhà Néak Ta»  hay «Chòi Néak Ta».


Ta còn nhớ ở những chương trước, vua Kaundin nằm mơ nhặt được một cây cung dưới một gốc cây trên đường vào đền thờ trước khi chiến đấu và giành quyền cai trị vương quốc Khmer, đến khi thức dậy, Ngài nhặt được một cung tên thật. Linh hồn ngụ ở cây đó và ban cung tên cho Kaundin không ai khác chính là Néak Ta ngụ tại đó.

Thông thường, Néak Ta rất tốt bụng. Néak Ta là đấng bảo vệ người trong phum srok và các khu vực được yên vui. Néak Ta có thể giúp đỡ được con người khi đáp ứng những lời cầu khấn.

Néak Ta là một linh hồn ngự ở một nơi cố định nào đó. Mỗi Néak Ta sẽ có một chỗ hay một cái chòi riêng của mình. Néak Ta không bao giờ đi xa khỏi nơi ở hay chòi của mình. Nếu người ta có vấn đề muốn cầu xin sự giúp đỡ từ Néak Ta thì có thể đến gặp Ngài trực tiếp tại chòi hoặc chỗ của Ngài.

Mặc dù là vị thần tốt bụng, Néak Ta cũng rất dễ nỗi giận và cũng dễ kìm chế. Việc tiếp xúc với Néak Ta không hề phức tạp hay khó khăn gì cả. Người ta chỉ cần mang một số lễ vật như cơm, gà luộc, dừa tươi, chuối hay bánh trái và nhang đèn đến gặp cầu xin là được.

Việc quan trọng hơn cả là người cầu nguyện không được quên lời hứa của mình với Néak Ta. Người ta cũng không được có thái độ vô lễ, hay dùng từ ngữ thô lỗ, hỗn láo với Néak Ta như việc cười đùa khi có người đem chuyện Néak Ta ra làm trò đùa. Không phải người lấy Néak Ta ra kể chuyện tếu lâm sẽ bị Néak Ta quở phạt mà Néak Ta sẽ quở phạt người nào cười với câu chuyện cười đó.

Hình thức phạt duy nhất là làm cho người đó bị đau bụng không thể chịu được, đến khi đến xin Néak Ta thứ lỗi cho thì sẽ được xóa lỗi và hết đau bụng.

Dù thế nào đi chăng nữa thì đây là những câu truyện mà người già thường kể lại cho con cháu Khmer đời sau.


Ngày nay tín ngưỡng thờ Néak Ta ở Kampuchea Krom không còn phổ biến nữa vì đảng Cộng sản Yuon gán ghép những hành vi tín ngưỡng này là «mê tín» và cố gắng xóa bỏ chúng. Kỳ thực, người Yuon không phải muốn xóa bỏ những «hủ tục lạc hậu» mà họ có dã tâm xóa bỏ những giá trị truyền thống tạo nên bản sắc dân tộc của những người bản địa.

Khmer Krom yêu cầu Báo cáo viên Liên Hiệp Quốc can thiệp vấn đề Việt Nam cướp tài sản


Thạch Phát| Đại diện những nạn nhân bị công an Yuon bắt gian giữ và cướp đoạt tài sản tại cửa khẩu Hà Tiên – Prek Chak đã có cuộc tiếp xúc với ông Surya Prasad Subedi để yêu cầu sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc về vấn đề này hồi ngày 25 tháng 1 năm 2015 tại Văn phòng Ủy ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Phnom Penh.

Sư Kim Visal có mặt trong buổi gặp mặt cho biết những nạn nhân bị chính quyền Việt Nam cướp đoạt tài sản mong muốn người đại diện Liên Hiệp Quốc này giúp can thiệp để chính quyền Hà Nội nhanh chóng trả lại tài sản và đưa ra những giải thích phù hợp cho hành vi vi phạm quyền con người của mình.

Hồi ngày 28 tháng 10 năm 2014, một nhóm 16 người gồm Tăng sĩ và Phật tử và 3 trẻ em mang quốc tịch Kampuchea khi đang chờ làm thủ tục xuất cảnh về nước tại cửa khẩu Hà Tiên thì bị lực lượng an ninh của Việt Nam giam giữ gần 12 giờ đồng hồ. Tại cơ quan điều tra, những người này bị giới chức Việt Nam thu giữ và khám xét hành lý cá nhân, kể cả điện thoại di động và thậm chí là tài khoản các trang mạng xã hội.

Ngày 03 tháng 11 năm 2014, Liên Hiệp Tăng-già Khmer Kampuchea Krom có trụ sở tại Vương quốc Kampuchea đã ra một thông cáo chính thức cáo buộc Chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền, xúc phạm Quốc vương Kampuchea và can thiệp vào công việc nội bộ của Kampuchea và yêu cầu cơ quan hữu quan của Phnom Penh làm việc với Hà Nội để bảo vệ lợi ích của công dân mình.

Cũng theo sư Kim Visal, trả lời yêu cầu này, ông Surya P. Subedi cho biết với cương vị là Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc phụ trách vấn đề Nhân quyền tại Kampuchea, ông không có quyền tác động đến Việt Nam nhưng ông sẽ thúc đẩy chính quyền Kampuchea, thông qua các kênh ngoại giao, làm việc với Việt Nam để giải quyết vấn đề này.

Theo đó, ông gặp Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc phụ trách vấn đề Nhân quyền tại Việt Nam để họ chú ý đến vấn đề này khi làm việc với chính phủ Hà Nội.

Về vấn đề này, hồi ngày 6 tháng 11 năm 2014, ông Trần Xuân Nghiêm Giám đốc sở ngoại vụ tỉnh Kiêng Giang cho biết lực lượng chức năng của họ đã làm đúng chức năng là phạt hành chính những người này vị họ đã được cấp visa nhưng không đăng ký tạm trú. Ông này cũng bác bỏ thông tin là Việt Nam đã lấy tài sản của công dân Kampuchea.




Đầu tháng 3, Khmer Krom tổ chức Đại hội tại Phnom Penh


Thanh Tùng | Thông tin từ Văn phòng Thư ký liên hiệp các tổ chức Khmer Kampuchea Krom tại Kampuchea cho biết Khmer Krom sẽ tổ chức đại hội đầu tiên tại Phnom Penh vào đầu tháng 3 năm 2015 để mở rộng hệ thống đấu tranh tự nguyện.

Theo thư kêu gọi được phòng Văn thư và tài chính của Văn phòng Thư ký liên hiệp các tổ chức Khmer Kampuchea Krom tại Kampuchea ký ra ngày 20 tháng 1 năm 2015 này, thì Đại hội sẽ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật, ngày 1 tháng 3 năm 2015.

Cũng theo nguồn thông tin này thì Đại được tổ chức để các các nhân và các tổ chức hiểu rõ hơn về hệ thống các tổ chức của người Khmer Krom tại Kampuchea cũng như trên thế giới tức Liên Minh Khmer Kampuchea Krom (KKF), các tổ chức – cộng đồng Khmer Krom khác.

Đại hội này cũng muốn nâng cao tư tưởng cũng như hướng công chúng đến các vấn đề của người Khmer trong hiện tại, cũng như trong tương lai. 

Thư trên còn cho biết mong muốn thành lập mạng lưới tranh luận và kêu gọi sự tham gia tự nguyện.


Được biết đây là Đại hội đầu tiên của người Khmer Krom được tổ chức tại Phnom Penh. Địa điểm tổ chức dự kiến vẫn chưa được công bố. 




Lịch sử dân tộc Khmer - Chương VIII Đặc điểm nổi bật của dân tộc Khmer


Nhân loại kính ngưỡng người Khmer vì sự đồ sộ và độc đáo của đền Angkor, và cũng có thể thế giới cũng khen ngợi người Khmer với nền văn minh rực rỡ ; văn hóa phong phú ; khoa học, nghệ thuật phát triển. Tuy vậy, dường như thế giới chưa thật sự biết đến những đặc điểm độc đáo của người Khmer.

Nhiều ngàn năm trước Tây lịch, nhiều thế kỷ trước khi người Ấn Độ mang nền văn hóa của người Arya (văn hóa Brahma) đến, xã hội người Khmer đã đạt được kiến trúc cao cấp và phát triển ổn định. Tư tưởng của người Khmer, theo các thời kỳ được hình thành, phát triển và áp dụng đạt được nhiều thành tụ rực rỡ. Tư tưởng của người Khmer khác hoàn toàn tư tưởng các nước láng giềng và hoàn toàn độc lập với hai nền văn minh lớn Đông phương là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa. Nói cho đúng hơn, tư tưởng xây dựng xã hội của người Khmer mang những đặc điểm độc nhất, không hề giống bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới.

Chúng ta có thể chứng minh sự phát triển và đặc điểm nổi bật của dân tộc Khmer bằng việc căn cứ vào 3 lĩnh vực khoa học:

Toán học (គណិត​សាស្ត្រ)
Triết – Siêu hình học (បរមត្ថវិទ្យា)
Tôn giáo (សាសនា)

i. Toán học (គណិត​សាស្ត្រ)

Là bộ môn khoa học về số, đo, đếm và tính.

Số là ký tự được sử dụng được viết để xác định số lượng. Mỗi dân tộc khác nhau, số có những đặc điểm khác nhau. Các dân tộc Pháp, Anh không có ký tự ghi số. Người ta thường sử dụng các ký tự 1 2 3 4 5 6 7 8 9 là số. Chúng là chữ số của người Arab. Riêng chữ số «0» sau này mới được sử dụng. Nó có nguồn gốc từ Ấn Độ mà ban đầu nó được viết là thành một dấu chấm lớn như «•» gọi là «điểm» (theo Louis Renou và Jean Filliozat trong cuốn L'Inde classique).


Người Roman sử dụng 7 ký tự ghi số là I = 1, V = 5, X = 10, L = 50, C = 100, D = 500, M = 1,000. Với 7 ký tự này, người ta viết các ký tự này với nhau theo thứ tự trước, sau để tạo viết các số lượng khác như: II = 3, IV = 4, VIII = 8, …

Hầu hết các dân tộc trên thế giới sử dụng hệ thập phân, hay còn gọi là hệ đếm cơ số 10. Tức lấy 10 làm căn cứ đếm số lượng. 1 = 1/10, 2 = 2/10, 3 = 3/10. Người ta cũng nhân với 10 để có những số cơ sở lớn 10 như 20, 30, 40, … Người Ấn, người Trung Hoa, và các dân tộc thừa kế nên văn hóa của Ấn Độ, Trung Hoa như Cham, Malaysia, Nhật, và Yuon đều sử dụng hệ đếm cơ số 10 này.

Người Khmer sử dụng hệ ngũ phân, tức hệ đếm cơ số 5. Người Khmer sử dụng hệ ngũ phân trên cơ sở so sánh với số ngón tay của một bàn tay. Riêng số «0» được du nhập từ văn hóa Ấn Độ. Người Khmer đếm Mouy = 1, Pi = 2, Bey = 3, Buon = 4 và Pram = 5, và các số lớn hơn là Pram Muoy = 5 + 1 = 6, Pram Pi = 5 + 2 = 7, Pram Bey = 5 + 3 = 8, Pram Buon = 5 + 4 = 9.

Zhou Daguan cũng nhận thấy sự khác biệt trong cách đếm của người Khmer so với người Trung Hoa.

ii. Triết – Siêu hình học (បរមត្ថវិទ្យា)

Là môn khoa học nghiên cứu sự hình thành của vũ trụ, nghiên cứu về linh hồn, thần linh, và đời sống của con người sau khi chết, …

Phải thừa nhận rằng chỉ có các dân tộc văn minh phát triển cao mới chú ý đến việc nghiên cứu các phạm trù thuộc lĩnh vực khoa học này. Đối với các dân tộc có nền văn minh ít phát triển hoặc không có nền văn minh thì chỉ đơn giản là tin vào một linh hồn có khả năng bảo vệ hoặc phá hoại nào đó như «hồn ma» chứ không thể xây dựng một hệ thống các giá trị tâm linh.

Người Khmer tin rằng có tồn tại «linh hồn». Điều này hoàn toàn không có gì là khác lạ vì có rất nhiều dân tộc trên thế giới tin tưởng như vậy. Tuy nhiên đối với người Khmer đặc điểm khác  lạ, nổi bật nhất là vị trí của linh hồn.

Linh hồn con người tồn tại ở đâu?

Người Ai Cập tin rằng linh hồn của con người nằm ở trái tim. Do tin như vậy, trong cái Kim tự tháp – những ngôi mộ của Paraoh – người Ai Cập đặt những cái keo thủy tinh có chưa tim của vị hoàng đế bên cạnh cái xác của ngài. Người ta tin rằng khi vị hoàng đế lên thiên đường thì linh hồn của ngài cũng có được theo đó lên thiên đường.

Đối với người Ấn Độ và sau đó là các dân tộc Âu Châu thì linh hồn cũng nằm ở trong tim của con người. Ở Pháp, năm 1789, lực lượng cách mạng sau khi đã cắt đầu vua Louis 16, người cũng đem tim của ông bỏ vào một hủ thủy tinh. Người ta tin rằng việc bảo vệ quả tim là để bảo vệ linh hồn của ông khỏi tai họa.

Dân tộc bản địa ở đảo Pâques nằm giữa Thái Bình Dương thì tin rằng linh hồn nằm ở đầu. Trước khi chiến đấu, họ thường chặt đầu tượng tất cả các thần linh của kẻ thù. Họ tin rằng làm như vậy là họ đã giết được thần linh của kẻ thù và kẻ thù sẽ không còn ai bảo hộ nữa.

Người Khmer cho rằng linh hồn nằm ở gan. Trên thế giới, chỉ có duy nhất người Khmer tin rằng linh hồn nằm ở gan.

Khi người Khmer yêu thích một ai đó, người ta sẽ gọi người đó là «Ah Thlerm» (អា​ថ្លើម - Thằng gan), cũng như việc người Phát gọi người mà họ thương mến là «cœur» (trái tim) vậy. Người Khmer cũng nói «Chet muoy – Thlerm muoy» (ចិត្ត​មួយ ថ្លើម​មួយ – Một lòng một gan) để chỉ sự trung thành, chung thủy với một người nào đó. Trong tiếng Khmer «Thlerm» (ថ្លើម – Gan) được sử dụng rất nhiều như:

Chet muoy thlerm muoy (ចិត្ត​មួយ​ថ្លើម​មួយ - một lòng một gan) = Chung thủy, Trung thành.
Ort thlerm (ឥត​ថ្លើម - không có gan) = Vô tâm, thờ ơ.
Thlerm thum (ថ្លើម​ធំ - gan lớn, to gan) = hỗn láo.
Thlerm khmau (ថ្លើម​ខ្មៅ - gan đen) = xấu xa, độc ác.
Louk thlerm (លូក​ថ្លើម - bốc gan) = Xúc phạm uy tín.
Si thlerm (ស៊ី​ថ្លើម - ăn gan) = Giết.

Từ «Si thlerm» (ស៊ី​ថ្លើម - ăn gan) gây không ít hiểu lầm đối với những người không biết về văn hóa Khmer. Trong cuộc chiến từ năm 1970 – 1975, nhiều nhà báo phương Tây chứng kiến việc binh lính người Khmer giết chết kẻ thù rồi lấy gan kẻ thù ăn. Họ cho rằng những binh lính Khmer này ăn thịt người. Kỳ thực Khmer không có tập tục ăn thịt người vì nếu có ăn thì người ta sẽ ăn các phần có nhiều thịt, tức là phần «ngon hơn» chứ không chỉ ăn phần gan. Binh lính Khmer ăn gan kẻ thù vì họ tin rằng họ đã giết được linh hồn của kẻ thù sau khi đã giết chết «cái xác» của kẻ thù bằng súng đạn. Dù rằng ăn gan người, nếu so sánh với xã hội văn minh của nhân loại là một hành vi không đúng đắn nhưng nó không phải là hành vi của tập tục ăn thịt người.

Tôn giáo (សាសនា)

Người Khmer có tín ngưỡng riêng của mình. Điểm đặc biệt là người Khmer không tin vào một vị thần linh nào cả. Brahma giáo được du nhập vào xã hội của người Khmer từ thế kỷ thứ I và tồn tại đến thế kỷ thứ XIV, Tây lịch không phải là tôn giáo bản xứ của người Khmer mà là tôn giáo của người Arya được truyền vào lãnh thổ của người Khmer theo Brahma Kaundin hồi năm 50 Tây lịch. Phật giáo cũng như Brahma giáo cũng không phải là tôn giáo bản xứ của người Khmer mà là tôn giáo được du nhập từ người Arya. Phật giáo, ban đầu là Mahāyāna và sau này là Theravāda trở thành quốc giáo và là tôn giáo thống trị trong xã hội của người Khmer từ năm 1336 đến nay.

Tín ngưỡng của người Khmer được phát triển dựa trên nền tảng là sự biết ơn đến những đấng có ơn chứ không phải là sự tôn thờ một đấng thần linh nào đó để chờ đợi khi linh hồn rời khỏi thể xác sẽ được đấng thần linh đó bảo vệ như các tôn giáo khác. Trong đó, người Khmer hướng đến:

«Me -  Ba» là cha và mẹ
«Thorney – Tirk» (ធរណី - ទឹក), và được người Khmer cụ thể hóa bằng hình ảnh của Néang Konghing và Kraper (cá sấu – đã đề cập ở chương trước).
«Néak Ta» (អ្នកតា) là người bảo vệ lãnh thổ và người dân Khmer.

Mãi cho đến ngày nay, tuy được thực hành với những hình thức khác nhau cũng như được hòa trộn với các hình thức của Phật giáo việc thờ kính các đấng có ơn này vẫn còn tồn tại trong xã hội của người Khmer.

Kỳ sau: Tín ngưỡng ca người Khmer


Lịch sử dân tộc Khmer - Chương VII Chế độ mẫu hệ Khmer

Chế độ mẫu hệ (មត្តេយ្យកា) là chế độ tôn thờ mẹ hoặc phủ nữ là lớn nhất trong xã hội, công nhận mẹ, hoặc phụ nữ là người lãnh đạo quốc gia.

Có người cho rằng «mẫu hệ» chỉ đơn giản là việc phụ nữ có quyền tự do lựa chọn bạn tình cho mình vì họ thấy rằng ở các dân tộc theo chế độ mẫu hệ (như Tây Tạng), phụ nữ có quyền có nhiều chồng. Ở một số tiểu quốc tại Ấn Độ vấn đề này cũng không hề lạ lẫm gì. Truyện «Maha Phearatah» (មហាភារតៈ – Mahābhārata), nàng Draupati có đến 5 người chồng là những người anh em ruột của nhau, gọi là «Pāñva» (បាញ្ឌវៈ). Người Ấn Độ xem những chuyện này là vấn đề bình thường.

Đối với xã hội người Khmer thì khác. Dù theo chế độ mẫu hệ, tôn trọng phụ nữ, nhưng phụ nữ Khmer không có truyền thống phụ nữ có nhiều chồng và có rất nhiều quyền lực đến tận thế kỷ XIV. Zhou Daguan (Tcheou Ta Kouan – Chu Đạt Quan) là người có chuyến đi sứ đến Kampuchea vào năm 1296 có viết lại rằng: «Trong gia đình của người Khmer, mỗi khi có bé gái được sinh ra, cha mẹ thường không quên cầu khẩn rằng xin cho ngày sau con có được nhiều chồng, có hằng trăm, hàng ngàn chồng».  

Mẫu hệ Khmer không chỉ là quyền lợi của phụ nữ Khmer mà còn là chế độ xã hội của người Khmer từ thời nguyên thủy. Người Khmer thừa hưởng truyền thống này từ tổ tiên Munda của mình. Mẫu hệ của người Khmer thiên về việc tôn kính và biết hơn «Me Ba», tức Mẹ - Cha. Mẫu hệ của người Khmer không chỉ là một chế độ quản lý nhà nước mà còn là một chủ nghĩa của toàn dân tộc Khmer. Ở xã hội của người Khmer, Mẹ có vai trò và vị trí cao nhất trong mọi trường hợp. Đối với người Khmer, mẹ là người lãnh đạo, là vua, và cũng là lãnh đạo tinh thần (vị thần thánh).  

Mẹ là người lãnh đạo
Người Khmer gọi mẹ là «me» (từ này sau biến đổi thành mae) và trong xã hội của người Khmer, mẹ giữ vai trò là người lãnh đạo. Để người Khmer không quên vai trò lãnh đạo của người mẹ, người Khmer gọi mẹ là «me». «Me» trong tiếng Khmer có 2 nghĩa: (1) người mẹ, (2) người lãnh đạo, người quản lý.

«Me» là mẹ có trong các từ « Mekong » nghĩa là dòng sông mẹ (Kongkea là nước, Kongk là sông), «Me Morn» nghĩa là Gà mẹ, …

«Me» nghĩa là người lãnh đạo, người quản lý trong các từ «Me Top» nghĩa là Tướng soái (người lãnh đạo lính), «Me Srok» nghĩa là người lãnh đạo srok – huyện trưởng, «Me khleang» nghĩa là người quản lý, trong coi kho – trưởng kho. Người Khmer gọi cấp trên là «me» chứ không gọi là anh, chị hay «đồng chí» như người Yuon.

Người Khmer tự gọi chính dân tộc mình là Khmer (Kh + Me + R), có nghĩa là người dưới quyền của «me» (mẹ) (Đã trình bày ở các kỳ trước).

Phương pháp tâm lý làm cho người Khmer tự hạ mình dưới quyền của người lãnh đạo (hay có thể nói là tẩy não) là một vấn đề không hề lạ lẫm. Từ thời Munda, người Khmer dùng từ «Anh» (អាញ់ - Aññ) nghĩa là «Tao» để gọi bản thân. Từ này vẫn được dùng cho đến thời kỳ Angkor. Đến thời kỳ người Khmer lấy Phật giáo Theravāda làm quốc giáo người ta buộc người Khmer dùng từ «Khnhum» (ខ្ញុំ) nghĩa là «Tôi», «kẻ tôi tớ» để gọi bản thân mình. (Yuon cũng có trường hợp này, dùng từ «tôi» hay «tớ» là từ chỉ kẻ hầu hạ, phục dịch để gọi bản thân). Nhà sư Khmer thì không dùng từ «Khnhum» để gọi mình mà dùng từ «Atma» (អត្មា) là từ gốc Sanskrit có nghĩa là «mình» .

Mẹ là nữ vương
Chế độ chính trị đầu tiên của người Khmer là chế độ quân chủ dưới sự cai trị của một nữ vương tương tự như chế độ mẫu hệ của người Munda. Cho đến nay, người ta vẫn chưa biết được lịch sử các vị nữ vương của người Khmer, tuy nhiên người ta biết rất rõ về vị nữ vương cuối cùng của người Khmer, trị vị khoảng năm 50 Tây lịch và được người Khmer gọi là «Yeay Liu» (Đã đề cập ở chương VI).

Sau khi Brahma Kaundin trở thành quốc vương của người Khmer và Yeay Liu trở thành Hoàng hậu thì phụ nữ Khmer vẫn còn giữ được địa vị cao trong xã hội và đế độ mẫu hệ vẫn còn sức ảnh hưởng.

Không những thế, vua Kaundin là người thành lập nhà nước mới và hoàng hậu Yeay Liu lại là người thành lập triều đại mới này với tên gọi là «Sauma Vaingsa» (សោមា​វាំង្សា) theo thên Sauma của Ngài.

Mẹ là một vị thần
Khởi thủy, người Khmer cũng như người Munda, không theo bất kỳ một tôn giáo nào, cũng không có niềm tin vào bất kỳ vị thần linh nào. Cũng như tổ tiên Munda của mình, người Khmer tôn thờ «Me – Ba», tôn thờ «Đất – Nước» và «Néak Ta». Thuận theo niềm tin của dân tộc, người Khmer nâng «Me – Ma» lên cấp độ thần thánh.


Phạm trù «Me» được người Khmer cụ thể hóa bằng hình ảnh «Néang Konghing» (នាង​គង្ហីង) và hình ảnh «Ba» được cụ thể hóa bằng hình ảnh «Cá Sấu» (ក្រពើ – Kraper). Người Khmer tôn thờ hình ảnh này như thần thánh.

Neang Konghing là hình ảnh một người nữ có tóc dài đến tận gót chân. Kraper là hình ảnh một con cá sấu hoặc một lá cờ có hình dáng như con cá sấu được gọi là «Cờ Cá Sấu» ( ទង់​ក្រពើ - Tǒng Kraper).

Từ sau khi có sự xâm nhập của nền văn hoá người Arya cùng với sự cai trị của Brahma Kaundin, chế độ mẫu hệ mà người phụ nữ có vai trò là mẹ, là người lãnh đạo quốc gia và là một vị thần linh dần dần bị suy yếu và mất hẵn vào năm 1336, là thời điểm mà Phật giáo trở thành quốc giáo của người Khmer.

Người Arya không có huyết thống với người Munda, tức không có quan hệ với người Khmer. Người Arya có nguồn gốc ở phía Tây Mongolia. Họ tự đặt tên mình là Arya, có nghĩa là cao cả, thượng đẳng.

Brahma (Bà La Môn) Giáo thịnh hành trong xã hội Khmer từ năm 50 đến năm 1336, Tây lịch. Tôn giáo này hoàn toàn không phân biệt nữ giới. Ngược lại, tôn giáo này rất cần nữ giới. Mỗi vị thánh của tôn giáo này, từ Shiva, Brahma hay Vishnu đều có một hay nhiều người vợ cả. Hình ảnh phụ nữ là thần thánh không nhiều vô số, ví dụ như các vị tiên, các Apsara (nữ vũ công của các thần linh). Hình ảnh hơn 2000 Apsara được khắc trên đền Vishnu Loka (hay còn gọi là Angkor Wat) cũng là sự đánh giá rất cao về vai trò của phụ nữ trong xã hội của người Khmer.

Dưới xã hội Brahma Giáo, phụ nữ Khmer có rất nhiều quyền tự do. Zhou Daguan có viết như sau: «Khi họ đến tuổi trưởng thành, sau khi thực hiện nghi thức «Chén Tian» (ឆាន់ទាន), phụ nữ có quyền tự do đi lại mà không hề bị bất kỳ ai cấm cản hay kiểm soát cả. Người nam có quyền ăn nằm với người nữ mà anh ta yêu thích trước khi lấy cô gái làm vợ. Truyền thống người Khmer không xem đây là điều hổ thẹn hay lạ lẫm gì cả».

Việc Kaundin lên ngôi vua và lấy Yeay Liu làm hoàng hậu cho thấy sự sáng suốt của Ngài vì hình ảnh Yeay Liu trên ngai vàng là một biểu tượng cho người dân thấy được sự tồn tại của chế độ mẫu hệ và dễ dàng chấp nhận vị quốc vương đâu tiên này.
13 thế kỷ sau khi Kaundin lên ngôi, các quốc vương vẫn giữ các đặc điểm của nữ giới như việc sơn bàn tay, bàn chân màu đỏ, đính hoa trên búi tóc, đeo hoa tai, đeo vòng cổ bằng ngọc và dùng các từ dành cho nữ giới như Jas (ចាស៎ - vâng, trong khi nam giới dùng từ bat – បាទ), … Quốc vương có 400 vệ sĩ là nữ giới và 4000 nữ tỳ. Tất cả những điều này chỉ để người dân thấy rằng giai cấp thống trị vẫn tôn trọng chế độ mẫu hệ.

Phật giáo du nhập vào xã hội người Khmer vào những năm đầu Tây lịch nhưng chính thức trở thành quốc giáo vào năm 1336. Brahma giáo bị thất sũng và bị phá hủy hoàn toàn. Các Brahma (Bà La Môn – giai cấp tu sĩ của Bà Là Môn giáo) bị giết hại hoặc phải chạy trốn khỏi vương quốc. Cũng từ thời điểm đó, vị thế của phụ nữ không hoàn toàn thay đổi.

Đối với Phật giáo, phụ nữ là nguồn gốc của mọi dục vọng (តណ្ហា – Taṇhā) và các dục vọng này là nguồn gốc của mọi đau khổ (ទុក្ខ – Dukkha). Như vậy, muốn thoát khỏi mọi đau khổ phải diệt trừ dục vọng và nguồn gốc của nó, là phụ nữ. Trong Phật giáo, tu sĩ không được phép nhìn phụ nữ. Người ta cũng thấy rằng trong các sách của Phật giáo, phụ nữ hoàn toàn không được tôn trọng và không được đán giá cao.

Ông Hermann Oldenberg trong cuốn Bouddha, vie et religion viết rằng: «Trong các sách của Phật giáo, người ta đề cập rất nhiều đến các việc lừa đão, gian manh của phụ nữ được ra và trong những quyển sách đó người ta đề cập đến bản chất phụ nữ đen tối, bí ẩn như đường đi của con cá trong nước vậy. Phụ nữ là những người với tâm xấu xa, gian xảo, không thể nào tin được. Đối với phụ nữ, sự thật cũng như sự giả dối, giả dối cũng tương đương với sự thật, …»


Với tư tưởng đối với phụ nữ như thế này, người ta dễ dàng biết được tại sao phụ nữ Khmer mất đi địa vị vốn có của mình. Cũng bởi lý do đó mà chế độ mẫu hệ cũng mất đi trong xã hội của người Khmer đến tận ngày nay.

Most Popular

Most read this month